Nhâm
Tuất (602) Lý Phật Tử sai Lý Đại Quyền giữ thành Long Biên,
Lý Phổ Đỉnh giữ thành Ô Diên. Nhà Tùy sai Lưu Phương sang xâm lấn. Lý Phật Tử ra
hàng. Lưu Phương bắt Lý Phật Tử đem về Bắc.
Bính Tuất (866) Cao Biền đánh
lấy lại được thành Giao Châu.Nhà Đừơng thăng Cao Biền lên
chức kiểm hiệu Công bộ Thượng thư. Dùng Cao Biền làm Tiết độ sứ. Cao Biền đắp
Đại La thành.
Canh Tuất (945) Dương Tam
Kha là em vợ Ngô Quyền tự xưng là Bình Vương. Ngô Xương
Ngập con Ngô Quyền chạy đến Nam sách, nương nhờ Phạm Lệnh Công.
Canh Tuất: (950). Ngô
Xương Văn con Ngô Quyền đánh Dương Tam Kha, lên ngôi lấy hiệu là Nam Tấn Vương.
Giáp Tuất (947) vua Đinh
Tiên Hàong (Đinh Bộ Lĩnh) tổ chức lại quân đội: trong nước chia làm 10 đạo, mỗi
đạo 10 quân, mỗi quân 10 lữ, mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người.
Bính Tuất (986) Tuyển
lính khỏe mạnh gọi là Thân quân, thích vào trán 3 chữ “Thiên Tử quân” . Nhà Tống
sai sứ sang phong cho Lê Hoàn (Lê đại Hành) làm An Nam Độ Hộ Tĩnh Hải quân Tiết
độ sứ. Vua cho trả những tướngTàu bị ta bắt lần trước trong trận đánh giữ Việt
với Tàu.
Mậu Tuất (998): Trong
một năm có hai lần nhật thực (tháng 5 và tháng 10).
Canh Tuất (1070): nhà Lý
lập nhà Văn Miếu thờ Khổng Tử và Thất thập nhị hiền, bốn mùa tế lễ, sai Hoàng
thái tử tới đó học tập.
Giáp Tuất (1094): Nước
Chiêm Thành không tiến cống, Lý Nhân Tông sai sứ sang trách hỏi.
M<ậu Tuất (1118): Nước Chân Lap sai sứ đến tiến công. Chiêm Thành đến
tiến cống. Mua tự dẫn quân đi đánh động Ma Sát, bắt tù trưởng là Ngụy Bàng.
Tháng 12 vua trở về, làm lễ dâng tù binh trước nhà Thái Miếu.
Canh Tuất (1130): Vua Lý
Nhân Tông là con nuôi lên nối ngôi, phong Cha là Sùng Hiền Hầu làm Thái Tượng
hoàng. Thượng Hoàng mất, sứ nah Tống sang phong cho Lý Nhân Tông làm Giao Chỉ
Quận Vương. Bấy giờ nhà Tống bị người Kim xâm lăng, chiếm hết một nửa nước. Nhả
Tống phải dời về phía Nam sông Trường Giang.
Giáp Tuất (1154) Vua
Chiêm Thành là Chế Bì La Bút dâng con gái, được vua Lý Anh Tông thu nạp.
Bính Tuất (1226) THượng
Hoàng nah Lý truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng rồi ra ở chùa Chân Giáo.
Trần Thủ Độ mưu mô đem cháu là Trần Cảnh vào hầu Lý Chiêu Hoàng. Lý Chiêu Hoàng
lấy Trần Cảnh và nhường ngôi cho chồng. Nhà Lý mất về tay nhà Trần. Trần Cảnh
lên ngôi tức Trần Thái Tông phong Lý Chiêu Hoàng làm Chiêu Thánh Hoàng Hậu, Trần
Thủ Độ làm Thái sư và giáng Thượng Hoàng nhà Lý làm Huệ Quang Đại sư . Một hôm
Trần Thủ Độ đi ngang qua thấy Thượng Hoàng ngồi nhổ cỏ trước sân chùa. Thủ Độ
liền nói:”Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”. Thượng hoàng đứng dậy, xoa tay nói:”Lời của
anh nói, ta đây biết rồi”. Sau Thượng Hoàng ra chơi chợ cửa Đông, nhân dân tranh
nhau ra xenm, có người động lòng thương khóc. Thủ Độ sợ lòng người còn nhớ đến
vua cũ, sợ sẽ sinh ra biến loạn chăng. Tháng 8 năm đó, Thủ Độ sai người đem
hương hoa đến dâng và nói rằng:”Quan Thượng phụ có lời trần thỉnh. Thượng Hoàng
nhà Lý giận lắm, nói rằng:”Ta tụng kinh xong sẽ tự tử”. Rồi vào buồng ngủ khấn
rằng:”Thiên hạ nhà ta đã bị mày cướp mất, nay lại còn hãm hại ta, mai sau con
cháu nhà mày cũng phải chịu như thế”. Nói rồi liền thắt cổ ở vườn sau chùa.
Trần Thủ Độ truất ngôi
Thái hậu nhà Lý là Trần Thị xuống làm Thiên Cực công chúa, rồi đem gả cho Trần
Thủ Độ. Thái Hậu nguyên là con gái Trần Lý được gả cho vua nhà Lý là Lý Huệ Tông.
Lý Huệ Tông tức Thượng Hoàng nhà Lý đã tự tử, nay Trần Thị bị truất ngôi và đem
gả cho Trần Thủ Độ. Các cung nhân và con gái tông thất nhà Lý thì đem gả cho các
tù trưởng người Mường, người Mán...
Nhâm Tuất (1262): làng
Tức Mặc là quê hương của họ Trần được đổi là Phủ Thiên Trường, dựng cung Trùng
Quang để cho các vua đã nhường ngôi về ở, dựng chùa Phổ Minh và dựng một cung
riêng gọi là cung Trùng Hoa để mỗi khi vua đến chầu Thượng Hoàng thì ở đó.
Giáp Tuất (1274) vua
Trần Thái Tông lập con trưởng là Khâm là Hoàng Thái tử.
Bính Tuất (1286): tha
cho tù binh nhà Nguyên bị ta bắt được về nước. Hạ chiếu cho các vương hầu trong
tông thất nhà Trần được chiêu mộ binh lính, sắm sửa binh khí để phòng quân
Nguyên xâm lăng thì có quân để giữ nước.
Canh Tuất (1310) Tháng 9
Trần Nhân Tông mất an táng ở Đức Lăng.
Canh Tuất (1370): Nhà
vua mất, Huệ Từ Thái Hậu lập Dương Nhật Lễ lên làm vua. Ông là con riêng của
Thái Hậu không phải con Cung Túc Vương, dòng dõi nhà Trần. Tông thất nhà Trần âm
mưu lập đổ ông ta nhưng thất bại, 18 người chủ mưu đều bị Dương Nhật Lễ giết. Về
sau Dương Nhật Lễ bvị Cung Định Vương đem quân chiếm kinh thành, Nhật Lễ bị giết.
Cung Định Vương lên ngôi tức Trần Nghệ Tông.
Nhâm Tuất (1382): Chiêm
Thành vào đánh Thánh Hóa bị quân ta đánh bại.
Bính Tuất (1396) Lê Quý
Ly bắt các nhà sư dưới 50 tuổi phải hoàn tục và bắt các nhà sư thi, ai thông
hiểu về đạo Phật thì mới được tiếp tục tu và trao cho các chức như Tăng đường
đầu mục, tri cung, tri quán, tri tự, ngoài ra thì gọi là tu nhân hoặc thị giả.
Mùa Hạ, ban hành tiền “thông
bảo hội sao” là loại tiền giấy đầu tiên ở nước ta. Hồ Quý Ly còn định ra lệ thi
cử, và y phục cho các quan.
Bính Tuất (1406): Trần
Thiêm Bình, con cháu nhà Trần, chống lại Hồ Quý Ly, trốn qua Tàu nay được nhà
Minh cho quân đội hộ tống về nước. Hồ Hán Thương sai người đón đừơpng giết đi.
Sau đó, Hồ Hán Thương sai sứ qua nhà Minh trình bày rằng Trần Thiêm Bình chỉ là
người giả mạo, không phải là con cháu nhà Trần và xin cho nhà Hồ được triều cống
như cũ. Biết nhà Minh sẽ đem quân quia đánh nứco ta nên Hồ Hán Thương ra lệnh
tuyển mộ thêm binh sĩ để phòng bị. Tháng 9 năm đó, nhà Minh sai các tướng Chu
Năng, Trương Phụ, Mộc Thạnh đem quân qua đánh, phao tin sẽ lập con cháu nhà Trần
lên làm vua nước ta. Nhưng người ủng hộ nhà Trần, chống nhà Hồ đều chạy theo
quân Minh. Vì thế, quân nhà Hồ thua trận. Năm sau, Đinh Hợi (1407) quân Minh bắt
được cha con Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương giải về Tàu. Nước ta bị quân nhà Minh đô
hộ 10 năm.
Mậu Tuất (1418) Lê Lợi
khởi nghĩa tại Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, trong 120 năm kháng chiến, với
sự giúp đỡ của Nguyễn Trãi và các tướng Lê Lai, Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Lê Sát,
Trịnh Khả, Phạm Văn Xảo,v.v...Năm Đinh Mùi (1427) toàn thắng quân Minh, Nguyễn
Trãi viết bài “Bình Ngô Đại Cáo” tuyên bố cho toàn dân biết quân ta đã hoàn toàn
thắng lợi, đuổi quân xâm lăng nhà Minh (Ngô) ra khỏi nước, thu hồi nền độc lập.
Năm sau, 1428, vua Lê Lợi lên ngôi tức Lê Thái Tổ (nhà Hậu Lê ). Nguyễn Trãi làm
Thượng Thư Bộ Lại kiêm Xu Mật Viện (Cơ Mật Viện), Lê sát đứng đầu các quan võ.
Canh Tuất(1430): đổi
Đông Đô làm Đông Kinh (Hà Nội) và Tây Đô làm Tây Kinh (Thanh Hóa). Phạm Văn Xảo
là người có công lớn trong việc đánh đuổi quân Minh, được nhà vua trao chức Thái
úy. Về sau, ông bị vua nghi ngờ vì thấy quyền thế của ông quá lớn mà Thái tử Lê
Nguyên Long còn nhỏ tuổi. Bọn Trình Hoàng Bá và Lê Quốc Kỷ muốn tâng công, làm
mật sớ nói rằng Phạm Văn Xảo có ậm mưu làm phản nên vua ra lệnh bắt Phạm Văn
Xảo, đem giết chết và tịch thu tài sản.
Nhâm Tuất (1442), Lê
Thái Tổ đã qua đời ( 1433) , truyền ngôi cho con là Lê Nguyên Long tức Lê Thái
Tông (lên ngôi 1434), Lê sát là cụ ruột vua làm Phụ chính. Tháng 7 năm Nhâm Tuất
(1442) vua Lê Thái Tông đi duyệt binh ở Chí Linh, ghé Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi,
ở lại qua đêm, có Nguyễn Thị Lộ là vợ bé của Nguyễn Trãi hầu hạ vua. Tháng 8,
vua về đến huyện Gia Định thì mất. Lê Sát vì ghét Nguyễn Trãi nên nhân đó buộc
tội Nguyễn Trãi và Thị Lộ âm mưu giết vua. Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bị xử tử,
con cháu bị “tru di tam tộc” nhiều người phải đổi tên, đổi họ để trốn đi nơi
khác...Về sau, vua Lê Thánh Tông lên ngôi mới xóa bản án nầy và cho tìm con cháu
Nguyễn Trãi trở về cho làm quan.
Bính Tuất (1466) dưới
thời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận, vua thân hành ra bài sách cho các
thí sinh tiến sĩ. Những người đậu được vinh quy. Lệ cứ ba năm một lần có kỳ thi
tiến sĩ và lệ vinh quy ở nước ta bắt đầu từ đấy. Vua cho quân sĩ một nửa ở lại
trong đơn vị, một nửa về nhà làm ruộng, luân phiên nhau. Chia nước làm 12 đạo,
mỗi đạo chức hành khiển và chánh tuyên phủ sứ, phó tuyên phủ sứ.
Mậu Tuất (1478) chọn người
có khả năng để làm việc trong bộ hình, thanh liêm, am hiểu
luật lệ. Trong nước có lụt lớn.
Canh Tuất (1490): Dân bị
đói, nhà vua sai các quan chia nhau đến các phủ huyện lấy thóc trong kho đem
phát cho dân. Bắt lính đắp thêm kinh thành cho rộng ra, dựng đeịn Thạch Thất,
lập vườn Thượng Lâm để nuôi bách thú.
Nhâm Tuất (1502): Vua ra
lệnh cho Bộ lễ tổ chức rước bảng vàng những người thi đậu tiến sĩ đến niêm yết ở
nhà Thái học với ban nhạc đi trước. Từ đó về sau mới có lệ nầy.
Giáp Tuất (1514). Dưới đời
vua Lê Tương Dực, tháng hai, mùa Xuân, nhà vua tự mình cày
ruộng tịch điền để khuyến khích nông nghiệp trong nước. Trong nước có lụt lớn,
rắn lớn xuất hiện khắp nơi, đến 20 ngày. Người ta phải đốt pháo, mở cờ, đáng
trống để đuổi rắn đi. Vua ra lệnh đắp thành chặn ngang sông Tô Lịch, trên đắp
hoàng thành, dưới mở cửa cống , xây bằng gạch đá, dùng sắt chắn suốt bề ngang.
Lại làm thuyền chiến để đi chơi hồ Tây, bắt phụ nữ cởi trtần bơi chèo để cho vua
vui chơi. Vua nghe lời gièm pha, giết chết 15 người trong dòng họ nhà vua vào
háng tước công, lại thông dâm với cung nhân triều trước. Từ đó, nhà Lê suy yếu
dần về sau sinh loạn lạc, ngai vàng mất về tay nmhà Mạc...
Bính Tuất (1526): Vua Lê
Chiêu Tông thấy Mạc Đăng Dung chuyên quyền nên theo Trịnh Tuy trốn vào Thanh Hóa
để chống lại... Mạc Đăng Dung lập em vua là Hoàng đệ Xuân lên ngôi và nhân danh
Xuân truất phế vua, rồi cho quân vào đánh, bắt được vua giết đi Lê Chiêu Tông ở
ngôi được 11 năm, chết lúc 26 tuổi. Năm sau, Mặc Đăng Dung giết Hoàng đệ Xuân
rồi tự lập làm vua (1527). Nhà Lê chấm dứt.
Mậu Tuất (1538) Mạc Đăng Dung
lên ngôi đước mấy năm thì về làm Thái Thượng hoàng và
nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh. Nhà Minh sai tướng là Cừu Loan và Mao Bá
Ôn đem quân qua đánh. Mặc Đăng Doanh cho sứ qua nhà Minh xin đầu hàng, nói rằng
Mạc Đăng Dung dẹp loạn Trịnh Tuy và đaua vua Lê Chiêu Tông về kinh đô Thăng
Long, Lê Chiêu Tông bị bệnh chết, họ Lê không người nối dõi nên trước khi mất,
Lê Chiêu Tông đã bàn với quần thần truyền ngôi cho Mạc Đăng Dung...Trong nước
loạn lạc, đường qua biên giới chưa thông nên chưa kịp triều cống và báo tin...Vua
nhà Minh biết rằng lời tâu của vua Mạc là khôgn đúng sự thật nên quyết định đem
quân qua đánh. Trong lúc đó tại Thanh Hóa, Nguyễn Kim đã tìm được con cháu nhà
Lê tôn lên làm vua, chống lại nhà Mạc ở miền Bắc.
Canh Tuất (1550): Tướng
nhà Mạc là Lê Bá Ly, Nguyễn Thiến ...và bè đảng là Khải và Khang chống vua Mạc
là Mạc Phúc Nguyên, nên đem nhau vào Thanh Hóa theo vua Lê được vua Lê thu dùng.
Về sau Nguyễn Thiến chết, các con của ông là Quyện và Miễn lại trốn về với nhà
Mạc. Khải và Khang theo Trịnh Kiểmn đi đnh nhà Mạc. Nhà Mạc sai người đi chiêu
dụ Khải và Khang trở về với nhà Mạc. Khải và Khang nghe theo nhưng sau đó bị nhà
Mạc giết.
Nhâm Tuất ( 1562) dưới
thời Mạc Mậu Hợp, Trịnh Kiểm đem quân ra đánh Sơn Nam, sai tích trữ thóc lúa
lương thực để làm kế cầm cự lâu dài.
Giáp Tuất (1574): Tướng
Mạc là Nguyễn Quyện vào đánh Nghệ An chiếm các huyện Quỳnh Anh, Diễn Châu, trấn
thủ Nghệ An là Nguyễn Bá Quýnh bỏ chạy. Trịnh Tùng sai Trịnh Mô và Phan Công
Tích đem quân đến cứu, cầm cự đước vài tháng thì Nguyễn Quyện rút quân về.
Bính Tuất (1586): vua Lê
cho Nguyễn Tạo vào khám xét ruộng đất ở miền Thuận Hóa để thu thuế. Được Nguyễn
Hoàng tiếp đãi rất tử tế, Tạo rất cảm phục, không đi khám xét nữa, rồi làm sổ
sách mang sổ về.
Mậu Tuất (1598): Trịnh
Tùng phong cho con là Trịnh Tráng làm Bình quận công. Từ khi Trịnh Tùng giết
được Mạc Mậu Hợp, rước vua Lê về Thăng Long thì Nguyễn Hoàng đem quân ra giúp
Trịnh Tùng đánh dẹp dư đảng nhà Mạc ở Bắc. Nhân ở Hải Dương có bọn quận Thủy
(người làng Thủy Đường), quận Thụy, quận Lễ (người làng Nghi Dương) quận Quỳnh
(người làng Tiên Minh), cướp bóc khắp nơi, các huyện ở Hải Dương bị bắt buộc
phải đi theo chúng. Nhà Lê sai Nguyễn Miện, Phan Ngạn đem quân đi đánh. Miện bị
địch giết. Quận Thủy chiếm cứ mỏn núi cao ở Thủy Đường, thế lực rất mạnh. Vua Lê
cho Nguyễn Hoàng thống lĩnh thủy quân, có Bùi Văn Khuê đi tiền phong. Hoàng Đình
Ái thống lĩnh bộ binh, Phan Ngạn thống lĩnh cơ binh Nội Thủy. Ba đạo quân tiến
đánh cùng một lúc. Quân của Nguyễn Hoàng phá được mỏn núi Thủy Đường, bắt được
quận Thủy, giặc tan vỡ. Quận Thụy chạy về Tiên Minh bị Bùi Văn Khuê bắt được...Quận
Quỳnh chạy ra Yên Quảng. Quân nhà Lê bình định được toàn xứ Hải Dương...Mạc Kính
Dụng con Mạc Kính Chỉ (tàn quân của nhà Mạc) xưng là Uy Vương cũng bị Phú Lương
hầu bắt. Phú Lương hầu (không rõ tên) là thổ quan (người thiểu số) được thăng
làm Tổng binh. Nhà Lê ra lệnh tuyển thanh niên 18 tuổi trở lên vào lính. Mạc
Kính Cung chạy qua Long Châu (lãnh thổ Trung Hoa), đem của cải đút lóyt cho quan
Tàu ở vùng biên giới tâu xin nhà Minh can thiệp cho Kinh Cung được sống ở đất
Cao Bằng. Vua Lê cho Phùng Khắc Khoan cầm đầu sứ bộ, mang cống phẩm đến Yên Kinh
cầu phong. Trước đây nhà Minh phong cho Lê Lợi làm An Nam Quốc Vương và ấn bằng
vàng. Nay chỉ phong cho vua Lê chức Đô thống sứ, ban cho ấn đúc bằng bạc. Phùng
Khắc Khoan tâu rằng:“Họ Lê là dòng dõi của vua nước An Nam, giận kẻ bầy tôi bạo
ngược là họ Mạc cướp ngôi, cướp mất nước, nên nằm gai nếm mật, nghĩ khôi phục
lại cơ nghiệp của tổ tông. Còn họ Mạc kia đời đời làm tôi mà dám giết vua cướp
nước, thế thì họ Mạc thực là người có tộivới thiên triều mà lại cầu phong chức
đô đốc một cách ám muỗi. Nay họ Lê khôgn phải al người có tội như họ Mạc, mà lại
nhận chức phong như họ Mạc, thế là nghĩa lý gì? Xin bệ hạ soi xét”. Vua nhà Minh
bảo rằng:“ Chúa nhà ngươi không phải ví như họ Mạc, nhưng vì mới khôi phục được
nước, lòng người chưa ổn định, thì hãy lấy địa vit đô thống quản lý công việc
trong nước, sau này sẽ gia phong tước vương cũng chưa muộn gì”. Phùng Khắc Khoan
nhận sắc phong trở về, đến ải Nam Quan gặp tướng nhà Minh cho quân hộ tống sắc
phong về đến Thăng Long. Vua Lê tiếp đãi rất hậu và viết thư trình bày gởi qua
vua nhà Minh. Về sau nah Minh cho thu hồi ấn bạc cũ và cấp cho ấn mới bằng vàng.
Vua Lê và triều đình rằng mình là nước nhỏ đối với nước lớn, đành phải thuận
theo ý họ để yên cho con cháu họ Mạc sống ở đất Cao Bằng, chờ cơ hội thuận tiện
sẽ giải quyết sau.
Canh Tuất (1610): Trịnh
Tùng nghe theo lời đề nghị của Lê Bật Tứ, Tả Thị lang bộ Hộ lập Thế tử (con
trưởng của chúa Trịnh) nối ngôi chúa.
Nhâm Tuất (1622) chúa
Nguyễn Phúc Nguyên đặt dinh Ai Lao, tổ chức 6 đội hải thuyền quân ở sông Hiếu
Giang (Cam Lộ, Quảng Trị) để kiểm soát biên giới Lào-Việt và các vùng có người
thiểu số ở.
Giáp Tuất (1634): Đào
Duy Từ là người có tài văn võ kiêm toàn, trong vòng 8 năm đã giúp chúa Nguyễn
đắp lũy Trường Dục, chống họ Trịnh, mở mang xứ Đàng Trong, được xếp vào hàng thứ
nhất trong các khai quốc công thần dưới thời các chúa Nguyễn. Ông mất vào tháng
10 năm Giáp Tuất, thọ 63 tuổi.
Bính Tuất (1646): Tôn
Thất Khê là em ruột của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, làm Tổng Trấn Quảng Nam,
được chúa tin cậy, gởi gắm Thế tử là Nguyễn Phúc Lan. Ông làm Phụ chính dưới
thời chúa Nguyễn Phúc Lan. Ông mất vào tháng 7 năm Bính Tuất (1646) thọ 58 tuổi.
Chúa Nguyễn lập khoa thi Chính đồ và Hoa văn, 9 năm mộtt lần để chọn nhân tài
làm việc hành chánh ở các phủ huyện và ở trung ương. Dân ở Đàng Trong được mùa,
đời sống ổn định.
Mậu Tuất (1658): Quân
Nguyễn do Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật đánh chiếm 7 huyện phía Nam sông
Lam, đóng quân trong 6 năm, thu thuế, tuyển lính. Một số tướng bên Trịnh là đô
đốc Lân, thự vệ Chiêu Đức, v.v. tất cả 06 người đem quân đến đầu hàng. Nguyễn
Hữu Tiến thường cho quân vượt sông Lam ra đánh quân Trịnh ở phía Bắc. Tháng 9,
vua nước Chân Lạp là Nặc Ông Chân xâm lấn biên thùy, chúa Nguyễn sai Tôn Taht
Yến đem quân ở Trấn Biên (Biên Hòa) đánh dẹp, bắt được Nặc Ông Chân. Chúa Nguyễn
tha tội và cho làm phiên thần, hằng năm nộp cống. Được tin tướng của Trịnh là
Phạm Phương bạo ngược, mất lòng dân, hiện đang giữ đồn Đồng hôn...tướng Nguyễn
là Nguyễn Hữu Tiến bèn hội họp với tướng Nguyễn Hữu Dật để đánh Trịnh. Nguyễn
Hữu Dật xem thiên văn biết là sắp có mưa lụt, nhân lúc nước lớn thì đem thủy
quân tiến đánh lũy Đồng hôn. Quân Trịnh thua to. Tháng 12, quân Nguyễn đánh nhau
với quân Trịnh do Đào Quang Nhiêu chỉ huy tại xã Tuần Lễ (huyện Hương Sơn), quân
Nguyễn thua.
Canh Tuất (1670): Trịnh
Tạc thừa lệnh vua Lê cho người mang thư đến Nhật Lệ trách chúa nGuyễn sao không
nộp thuế cống cho vua Lê? Chúa Nguyễn Phúc Tần (Hiền vương) nói:“ Đó là họ Trịnh
giả mạng vua, ta quyết không nghe theo”. Trịnh Tạc giận lắm, muốn đem binh vào
đánh chúa Nguyễn. Nhưng có người can rằng:“Biết người biết ta, trăm trận không
nguy” Nay ở Nam Hà trên dưới một lòng, quân trắmlinh hùng mạnh, ta chưa nên
khinh động...” Trịnh Tạc bèn thôi.
Nhâm Tuất (1682): Thám
tử của chúa Nguyễn ở Bắc về báo tin ở Cao Bằng và Hải Dương có loạn. Trịnh Tạc
chia quân đi đánh, kinh thành bỏ trống. Chúa Hiền muốn đem quân đánh Bắc hà,
nhưng chưa chuẩn bị đủ quân lương nên thôi. Mùa Thu, tháng 8 năm đ, Trịnh Tác
mất, con là Trịnh căn nối ngôi.
Giáp Tuất (1694): con
của Nguyễn Phúc Diễn là Huệ và Thông âm mưu nổi loạn. Nguyễn Phúc Nhuận và Đức
Nhân biết được báo với chúa Nguyễn Phúc Chu. Tất cả bọn gồm 7 người đều bị bắt,
bị tra hỏi và bị giết.Nguyễn Phúc Nhuận và Đức Nhân được thưởng. Người Chàm tên
là A Ban nổi loạn đem quân đến bao vây thành Phan rang. Trấn thủ Bình Khang (Nha
Trang) là Nguyễn Hữu Oai đem quân theo thượng đạo đánh tới. ABan rút lui, Phan
rang được giải vây. Sau khi Nguyễn Hữu Oai bị bệnh mất, A Ban lại đánh phá nhiều
nơi. Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh làm chỉ huy, đem quân đánh dẹp.
Cai cơ Nguyễn Thắng Hồ đem quân dẹp yên được A Ban. Tháng 11 phong Kế Bà Tử
(người Chàm) làm phiên vương trấn Thuận Thành,hàng năm nộp cống (gồm 2 voi đực,
20 bò vàng, 6 cái ngà voi, 10 sừng tê giác, 500 khăn vải trắng, 50 cân sáp ong,
200 tấm da cá (nhám), chiếu tre trắng, gỗ mun, thuyền dài,v.v...). Tất cả những
thứ do ta tịch thu trước đây (như ấn, gươm, yên ngựa, người)...đều trả lại cho
vua Chàm (Kế Bà Tử).
Bính Tuất (1706): Tháng
Giêng, Trần Đình Ân chết, dược tặng Đôn hậu công thần đặc tiến trụ quốc kim tử
vinh lộc đại phu Đại lý tự khanh, thụy là Thuấn thiện. Cho 10 người phu mộ và
miễn thuế cho 30 mẫu tư điền. Trần Đình Ân là người đứng đầu triều đình mấy đời
chúa Nguyễn, giữ chức Cai Bạ Chính Đoán Sự.
Mậu Tuất (1718): Nguyễn
Khoa Chiêm là con rể của Trần Đình Ân được làm Cai Bạ Phó Đoán Sự (Bằng trung
hầu) là chức Tham mưu của chúa Nguyễn thay thế Trần Đình Ân đã chết.
Giáp Tuất (1754): Tháng
9, chúa Trịnh ra lệnh cấm đạo Thiên Chúa nghiêm ngặt hơn, nhưng dân thà chết
cũng không bỏ đạo. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục ghi lại như sau:“
Trước kia, vào khoảng năm Nguyên Hòa (1533- 1548) đời Lê Trang Tông, Y-Nê-Xu,
người Tây Dương, mới đem đạo ấy vào miền ven biển, thuộc huyện Giao Thủy, huyện
Nam Chân, lén lút truyền giáo, gọi là “đạo Thiên Chúa” cũng gọi là “Thập tự giáo”.
Giáo lý này dùng thiên đường địa ngục để phân biệt báo 1ứng về điều thiện, điều
ác, cũng gần giống đạo Phật, có thêm vào thuyết xưng tội, rửa tội nữa. Họ ngày
đêm dụ dỗ, lừa dối, những người ngu xuẩn quê mùa bị họ làm mê hoặc đăm đuối, dầu
có lệnh cấm, chết cũng không bỏ. Khoảng năm Cảnh Trị (1663-1671) và Chính Hòa
(1680-1704), triều đình đã nhiều lần ra lệnh cấm rõ ràng, nhưng vì lòng dân bị
che lấp đã lâu, rút cục không thay đổi được. Đến nay lại bàn cấm đoán nghiêm
ngặt hơn, nhưng cũng không thể nào ngăn cấm được”
(KĐVSTGCM, Tập hai, bản dịch Viện Sử học Hà Nội, 1998, trang . 627)
Chúa Nguyễn Phúc Khoát
đã xưng vương hiệu Võ vương, bắt đầu xây dựng cung điện ở Phú Xuân, nguy nga
tráng lệ: “dựng hai điện Kim hoa, Quang hoa, ba gác Dao trì, Triêu dương, Quang
thiên và các đường (nhà lớn) Tựu lạc, Chính quan, Trung hòa, Di nhiên, đài Sướng
xuân, đình Thụy vân, hiên Đồng hạc, am Nội viên, đình Giáng hương. Ở thượng lưu
sông Hương lại có phủ Dương xuân, điện Trường lạc, hiện Duyệt võ. Đều chạm vẽ
hết sức tinh xảo. Ở vườn hậu uyển thì có non bộ, đá lạ, hồ vuông, hào cong, cầu
vòng, thủy tạ. Tường trong tường ngoài đều xây đắp các hình rồng, hổ, lân,
phượng, hoa cỏ. Gác Triêu dương nhìn xuống dòng sông, quy mô càng rộng rãi sáng
sủa. Phía trên phía dưới đô thành đều đặt nhà quân xá và đệ trạch của các công
hầu, chia ra từng ô như bàn cờ. Phía ngoài thành thì chợ phố liên tiếp, cây to
um tùm, thuyền chài thuyền buôn đi lại như mắc cửi. Thực là một nơi đô hội lớn,
văn vật thanh dung lừng lẫy, đời trước chưa từng có” (thanh al thanh âm,chỉ đàn
hát; dung là dung mạo đẹp đẽ, chỉ người đẹp)
(Đại Nam Thực Lục Tiền
Biên, phần về chúa Võ Vương tức Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng Đế, bản dịch, trang 217)
Bính Tuất (1766): Miền
Bắc thiên tai, bão lụt, vỡ đê, động đất ở Kinh Bắc (Bắc Ninh), dân đói, loạn lạc
nổi lên khắp nơi ở Sơn Tây, Hưng Hóa...Tháng 8, Tổng binh Mạc Thiên Tứ (con Mạc
Cửu) ở Hà Tiên được tin vua Xiêm đã sửa soạn chiến thuyềøn định ngày sang đánh
Hà Tiên...liền báo về Gia Định xin quân tiếp ứng. Các tướng Nguyễn là Nguyễn Cửu
Pháp, Nguyễn Thừa Mân, Nguyễn Cửu Siêu, Nguyễn Cửu Tự đem 3 chiến thuyền lớn (đi
biển), 20 thuyền nhỏ và 1.000 lính đến Hà Tiên để phòng giữ.
Mậu Tuất (1778): Hoàng
Đình Bảo dùng mưu phá tan giặc cướp ở hai huyện Đông Thành và Quỳnh Lưu (Nghệ
An) nên được thưởng cho tước Huy Quận công. Tháng 6, ở miền Bắc dân bị đói to.
Tháng 7, giặc cướp nổi lên ở vùng biển, triều đình sai các tướng Nguyễn Phan,
Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Đình Bảo đem quân đi đánh dẹp. Hoàng Đình Bảo dẹp được
giặc, từ đó được chúa Trịnh tín cậy, đưa về giữ chức vụ quan trong tại kinh đô,
thế lực càng ngày càng lớn.
Tại Miền Nam, chúa Duệ
Tông (Nguyễn Phúc Thuần) đã bị Tây Sơn giết, các tướng tôn người cháu là Nguyễn
Phúc Ánh (mới 17 tuổi) lên làm Đại Nguyên soái, quyền coi việc nước, bên cạnh có
Đỗ Thanh Nhân chỉ huy quân đội để chống lại Tây Sơn. Sử nhà Nguyễn lấy năm nầy
là năm đầu của vua Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh (vua Gia Long). Nguyễn Vương đặt
tôn thụy (tên của vua hay chúa đã chết) cho chúa Nguyễn Phúc Thuần là Thông Minh
Khoan Hậu Anh Mẫn Huệ Hòa Hiếu Định vương, dâng tôn thụy cho Hoàng khảo (Nguyễn
Phúc Luân cha của Nguyễn Phúc Ánh) là Từ Tường Đạm Bạc Khoan Du Ôn Hòa Hiếu
Khang vương. Các vật quốc bảo, ấn tín của chúa Nguyễn gồm bốn tờ kim sách, một
quả ấn bằng vàng, ba quả ấn đồng, được chúa Duệ Tông trao cho Lê Chử cất giữ.
Gặp quân Tây Sơn đuổi, Lê Chử đem tất cả các thứ quốc bảo đó quăng xuống sông
Tra giang thuộc Gia Định. Nay mới trở lại tìm được và đem dâng cho Nguyễn Phúc
Ánh. Tháng 2, tổng đốc Chu của Tây Sơn đem thủy binh đến đánh phá ven sông Trtấn
Biên (Biên Hòa) và Phiên Trấn (Gia Định). Tháng 3, vua sai Đỗ Thanh Nhân giữ Sài
Gòn. Vua tự mình làm tướng đóng ở Lật Giang, dựng cờ “Tam quân tư mệnh” để chỉ
huy tướng sĩ. Các tướng Nguyễn là Lê văn Quân, Nguyễn Văn Hoằng đem đại binh
đánh quân Tây Sơn Lật Giang và Ô Nguyên, đều thắng. Quân Tây Sơn rút về Trường
Giang. Quân Nguyễn đắp lũy từ phía Tây sông Bến Nghé (Ngưu Chử) đến kênh Thông,
cửa kênh đóng cọc gỗ để ngăn giặc. Đóng hơn 50 chiếc chiến hạm và sắm nhiều bè
hỏa công...Mùa Hạ, tháng 5 Lê Văn Quân đánh thắng quân Tây Sơn trtên sông, Đỗ
Thanh Nhân chém được Tư khấu Oai ở Bến Nghé, cướp được tất cả thuyền của Tây
Sơn. Nguyễn Văn Hoằng đánh thắng quân Tây Sơn ở Đồng Nai, chém hai tướng là Liêm
và Lăng, lấy lại Trấn biên. Phạm Ngạn chạy về Quy Nhơn, quân Nguyễn chiếm được
Gia Định và Lê Văn Quân đem quân ra đánh Bình Thuận. Vua cho Nguyễn Văn Hoàng và
Nguyễn Nghi ra giữ Bình Thuận hợp với quân của Châu văn Tiếp, gọi Lê Văn Quân về.
Vua cho tổ chức chính quyền và đặt các cơ quan hành chánh tại Trấn Biên (Biên
Hòa), Phiên Trấn (Gia Định) và Long Hồ (Vĩnh Long), sai đóng chiến thuyền, lập
kho chứa lương thực mưu đồ cuộc phục hưng. Trong lúc bị quân Tây Sơn đánh đuổi,
Mạc Thiên Tứ và Tôn Thất Xuân chạy sang Xiêm. Nay vau sai Lưu Phước Trưng sang
Xiêm tìm họ về và sai Nguyễn Văn Nhân làm Khâm sai cai cơ, giữ đạo Cường Thành (thuộc
An Giang ). Tại Quy Nhơn, Nguyễn Văn Nhạc tự lập làm vua lấy niên hiệu là Thái
Đức năm thứ nhất.
Canh Tuất (1790): Từ
năêm Kỷ Dậu (1790), vua Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh, quân Thanh do Tôn Sĩ
Nghị kéo vào nước ta. Quân Tây Sơn ở miền Bắc rút về cố thủ ở đèo Tam Điệp và
cấp báo cho Nguyễn Huệ ở Phú Xuân biết tình hình. Nguyễn Huệ đổi tên là Nguyễn
Quang Bình, lên ngôi Hoàng đế niên hiệu Quang Trung, rồi đem quân từ Phú Xuân ra,
hiệp với quân Tây Sơn ở Thanh Hóa, Nghệ An cùng tiến ra Bắc, đánh đuổi quân
Thanh xâm lược. Tôn Sĩ Nghị thua chạy về Tàu. Các tướng nhà Thanh là : đế đốc
Hứa Thế Hanh, tiên phong Trương Sĩ Long, tả dực Thượng Duy Thăng và tri phủ Điền
Châu Sầm Nghi Đống đều tử trận. Vua Lê Chiêu Thống và đoàn tùy tùng 25 người
chạy theo quân Thanh, sống lưu vong và chết ở Trung Quốc. Nhà Lê chấm dứt vào
năm Canh Tuất (1790).
Năm nầy, Nguyễn Vương đã thu phục toàn bộ đất Gia Định (Nam kỳ), tổ chức
lại quân đội, hành chánh, thương mãi, mở mang giáo dục, dựng kho chứa lúa gạo,
lập xưởng sản xuất binh khí, đóng thuyền đồng, ban hành luật lệ, cấm đánh bạc,
uống rượu, củng cố phong tục...Vua cho xây thành Gia Định to lớn và kiên cố hơn
xưa:“Thành đắp theo kiểu bát quái, mở tám cửa, ở giữa là cung điện, bên tả dựng
nhà Thái miếu, phía sau miếu là kho tàng, bên hữu đặt cục chế tạo, chung quanh
là nhà tranh cho quân túc vệ ở. Giữa sân dựng kỳ đài ba tầng, trên làm tòa vọng
đẩu bát giác, ban ngày kéo cờ, ban đêm thì kéo đèn làm hiệu lệnh cho các quân.
Thành xong gọi tên là kinh thành Gia Định...Tám cửa thành đều xây bằng đá ong,
phía Nam là cửa Càn nguyên và cửa Ly minh, phía Bắc là cửa Khôn hậu và cửa Khảm
hiểm, phía Đông là cửa Chấn hanh và cửa Cấn chỉ, phía Tây là cửa Tốn thuận và
cửa Đoài duyệt. Ngang dọc có 8 đường, Đông sang Tây dài 131 trượng 2 thước, Nam
sang Bắc cũng thế, cao 13 thước, chân dày 7 trượng 5 thước. Phía ngoài thành là
hào, hào rộng 10 trượng 5 thước, sâu 14 thước, có cầu treo bắc ngang. Chu vi
ngoài thành là 794 trượng. Ở ngoài là đường phố chợ búa, dọc ngang la liệt đều
có thứ tự. Hai bên đường quan đều trồng cây thích nghi, gọi là đường thiên lý” (Đại
Nam Thực Lục CB, đệ I kỷ, bản dịch, Hà Nội, 1963 tr.112) (chú thích: Tòa vọng
đẩu bát giác là xây theo kiểu bát giác không có mái che. Có mái thì gọi là vọng
lâu).
Nhận thấy đã củng cố được
Gia Định, các tướng bèn đề nghị dem quân đánh ra Bình Thuận.
Vua cho Lê Văn Quân chỉ huy 6.000 lính cùng Nguyễn VănThành, Võ Tánh ra lấy Bình
Thuận. Lấy được Bình Thuận rồi, Lê Văn Quân muốn chiếm luôn Diên Khánh. Tướng
Tây Sơn là Hồ Văn Tự, Nguyễn Công Thái, Từ Văn Tú đem 9.000 quân từ Diên Khánh
vào đánh, Lê Văn Quân thua, lính chết nhiều. Vua ra lệnh cho Nguyễn Văn Thành
đem quân trở lại cứu và cho Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương và Vũ Văn Lượng
đem quân từ Gia Định tăng cường. Hai bên đánh nhau kịch liệt, quân Tây Sơn phải
lùi. Vua nhận thấy gió mùa không tiện cho việc tiếp tế lương thực, đánh lâu bất
lợi nên ra lệnh kéo quân về, lưu một ít quân ở lại giữ Phan Rí.
Từ năm 1790 trở đi, vua Gia Long đã làm cho đất Gia Định trở nên giàu có,
đời sống dân chúng ổn định, có triều đình với một quân đội hùng mạnh, hơn 10 năm
sau, đã thống nhất đất nước. (1801 và 1802)
Nhâm Tuất (1802) Gia
Long Bắc Tiến Thống Nhất Sơn Hà
Sau khi chiếm được thành
Phú Xuân (1801), vua Gia Long cho quân đuổi theo vua Tây Sơn ra Bắc. Ngày Tết
Nguyên Đán năm Nhâm Tuất (1802), vua vào đóng quân tại Đồng Hới (Quảng Bình),
vua Tây Sơn là Nguyễn Quang Toản sai em là Nguyễn Quang Thùy đem quân đánh lũy
Trấn Ninh, Đinh Công Tuyết và Nguyễn Văn Kiên đánh núi Đâu Mâu; Đặng Văn Đằng và
đô đốc Lực hợp với bọn giặc biển Tề Ngỗi dàn thủy binh bên ngoài cửa Nhật Lệ.
Vua sai Nguyễn Văn Trương đem thủy binh đối phó mặt biển, Phạm Văn Nhân và Đặng
Trần Thường đem bộ binh chống đánh. Quân Tây Sơn tiến sát lũy Trấn Ninh, quân
Nguyễn trên núi bắn súng xuống. Quân Tây Sơn đến sat chân núi Đâu Mâu, quân
Nguyễn lăn đá xuống...quân Tây Sơn chết rất nhiều. Tướng Tây Sơn là Bùi Thị Xuân
(vợ Trần Quang Diệu) cưỡi voi liều chết đánh từ sáng đến trưa chưa chịu lui.
Nghe tin Nguyễn Văn Trương phá được thủy binh của Tây Sơn ở cửa biển Nhật Lệ,
cướp được 20 chiếc thuyền, Nguyễn Văn Kiên đầu hàng, nên bộ binh quân Tây Sơn
cũng tan rã. Quân Nguyễn do Tống Phúc Lương và Nguyễn Văn Vân bắt được 50 thuyền
lương của Tây Sơn ở sông Gianh. Vua Quang Toản chạy qua sông Gianh, quân đi theo
chưa tới 1, 2 phần 10 bị quân Nguyễn chận đánh, hơn 700 lính Tây Sơn bị bắt.
Hoàng Văn Điểm đuổi đến Tiên Cốc (huyện Bình Chánh), quân Tây Sơn ra hàng hơn
3.000 người; tịch thu 700 súng lớn, 500 con ngựa. Thượng thư Nguyễn Thế Trực, đô
đốc Trần Văn Mô, Tham đốc Bùi Văn Ngoạn và Thiếu tể Nguyên của Tây Sơn đều bị
bắt. Đô đốc Tây Sơn ra hàng là Lê Đình Chính trình bày tình hình Bắc Hà “lòng
dân đã chán ghét Tây Sơn chỉ cần 100 thuyền tiến đánh cũng có thể bắt sống
Nguyễn Quang Toản” . Nhưng ý vua Gia Long muốn hạ cho được thành Bình Định, bắt
cho được Trần Quang Diệu rồi mới an tâm tiến ra Bắc...Vua bèn sai Tống Phúc
Lương và Đặng Trần Thường giữ sông Gianh, Nguyễn Văn Trương giữ Đồng Hới, Hoàng
Văn Điểm giữ Cửa Ròn...Vua ra lời dụ cho các xã dân từ Quảng Bình vào Nam: phàm
tàn quân của Tây Sơn chạy về các làng xóm thì cho chúng đều được yên nghiệp làm
ăn, không được dọa nạt quấy nhiễu. Sau đó, vua trở về Phú Xuân.
Gia Long ra lệnh dứt
điểm thành Bình Định trước khi tiến quân ra Bắc
Như đã nói trên, trong khi đuổi theo vua Tây Sơn đến sông Gianh, Gia Long
đã quyết định cho quân dừng và lập tuyến phòng thủ ở đây để chờ đợi chieếm xong
thành Bình Định mới tiếp tục tiến quân ra Bắc.
Trong khi đó, đạo quân do Nguyễn văn
Thành chỉ huy có hai nhiệm vụ: cắt đứt đường tiếp tế của
Tây Sơn từ Phú Yên ra và tiếp tục tấn công vào mặt Bắc của thành Bình Định, nơi
Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đang cố thủ. Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn Đức
Xuyên đánh lũy Kỳ Sơn. Trần Quang Điệu ở Bình Định đem quân và voi theo đường
núi xông ra vây bốn mặt. Nguyễn Huệ, Phó tướng tiền quân của Xuyên tử trận.
Xuyên thu quân vừa đánh vừa lui. Vua nhận được tin báo, sai Lê Văn Duyệt đem
quân đánh vào thành Bình Định. Vua ra lệnh nếu bắt được người bên phe địch,
không được giết bừa bãi. Lính không được cướp bóc của dân, phải để cho dân được
yên ổn làm ăn. Vua sai dẫn những tướng Tây Sơn bị bắt đến trước cửa thành để cho
bên dịch biết. Quân Nguyễn Văn Thành thắng ở Kỳ Sơn, Lê Văn Duyệt thắng ở Thạch
Tân (Bến Đá). Tướng Tây Sơn là Từ Văn Chiêu chạy thoát. Quân Nguyễn chia hai đạo
đánh vào thành Bình Định. Trước đây, quân Tây Sơn giữ thành Bình Định có vài vạn
người do Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng chỉ huy cầm cự với quân Nguyễn được 8, 9
tháng, lương thực hết, sức chịu đựng của quân lính cũng không còn. Nghe tin quân
của Lê Văn Duyệt đến, Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng bèn theo đường thượng đạo (núi)
ra Nghệ An. Diệu và Dũng tập hợp được khoảng 3.000 quân khỏe mạnh và 80 tướng
chỉ huy, 86 thớt voi, ban đêm bỏ thành trống ra đi. Nguyễn Văn Thành biết được
tình trạng đó liền ra lệnh cho các đạo quân đuổi theo. Nhưng quân Tây Sơn đã
theo đường tắt trong rừng đi mất. Vua ra lệnh cho các nơi đem quân chặn đầu
nguồn Cam Lộ thuộc Quảng Trị không cho quân Tây Sơn ra Bắc, đồng thời gởi thư
cho Vạn Tượng (Lào) và Xiêm La (Thái) biết. Quân Nguyễn bắt được lính và tướng
bên Tây Sơn rất nhiều, cho những người đầu hàng được vào đoàn quân Túc trực, cho
Lê Đình Chính là hàng tướng Tây Sơn trước đây, đứng ra trông coi, săn sóc, an ủi
những người bị bắt để họ được yên tâm. Vua cho Nguyễn Văn Thành ở lại giữ Bình
Định, chiêu tập vỗ về dân chúng, truy tìm dư đảng của Tây Sơn. Nguyễn Văn Vân
bắt được 3 người con của Nguyễn Nhạc là Thanh, Hàn và Dũng đem nộp, vua ra lệnh
giết hết.
Khi còn ở Gia Định, vua
Gia Long đã cho thiết lập một triều đình gồm lục bộ để làm việc. Sau khi chiếm
lại kinh đô Phú Xuân, vua đã cho thiết lập một triều đình mới và gọi các quan ở
Gia Định như Nguyễn Thái Nguyên, Trần Hưng Đạt (bộ Lễ), Phan Thiện Phúc, Lê Viết
Nghĩa (bộ Hộ), Lê Quang Định (bộ Binh), đồng thời rước quốc mẫu (mẹ vua) về kinh
đô Phú Xuân.
Gia Long lên ngôi hoàng
đế tại Phú Xuân
Các quan dâng biểu xin
vua lên ngôi cho được danh chính ngôn thuận. Ngày 01 tháng 5, Nhâm Tuất (02
tháng 6 năm 1802) lập đàn ở cánh đồng làng An Ninh, tế cáo trời đất về việc đặt
niên hiệu. Ngày 02 tháng 5 Nhâm Tuất, làm lễ kính cáo vong linh liệt thánh (tổ
tiên nhà vua) nhận lễ chúc mừng, đặt niên hiệu Gia Long, đại xá cho cả nước. Vua
ban hành Chiếu chỉ, thông báo cho toàn dân, nội dung như sau:
“Ta nghe kinh Xuân Thu trọng nghĩa nhất thống là để chính danh nghĩa khi
mở đầu. Từ Tiên Thái vương ta dựng nền ở miền Nam, thần truyền thánh nối đã 200
năm. Gần đây Tây Sơn nổi loạn, vận nhà Lê đã hết, hơn vài mươi năm trong nứco
không có chính thống. Ta phải xiêu dạt một nơi, rất lo nghĩ về miếu xã và sinh
dân. Nằm gai nếm mật, mong sao cho được yên vui. Năm Canh Tý (1780) ta mới ở
thành Gia Định, được các tướng sĩ suy tôn, đã lên ngôi vương để giữ lòng người.
Duy đô cũ chưa phục, nên còn theo niên hiệu cũ. Nay ơn trời giúp đỡ, các thánh
để phúc, bờ cõi cũ đã lấy lại, cơ nghiệp xưa đã trở về, các quan văn võ tại
triều dâng sớ chương, khuyên ta lên ngôi hoàng đế và đổi niên hiệu. Nhưng ta
nghĩ rằng giống giặc chưa trừ xong, đất nước chưa thống nhất, không nên vội lên
ngôi tôn. Duy cứ theo niên hiệu đã qua mà thi hành những lệnh đổi mới thì không
phải là nêu rõ được khuôn phép. Vậy nên chuẩn lời xin đặt niên hiệu mới, định
lấy ngày mồng 1 tháng 5 năm nay kình cáo trời đất, ngày hôm sau kính cáo liệt
thánh, chép niên hiệu là Gia Long, để thống nhất kỷ cương, làm mới tai mắt. Vậy
xuống 06 điều ân điển:
1. Những số tiền thóc thuế nhà nước còn lưu khiếm ở dân từ tháng 12 năm
Tân Dậu (1801) trở về trước đều tha cả.
2. Lệnh xá đến ngay nào thì số thóc nhà nước các nha còn thiếu đều tha cả.
3. Những tù hiện đương bị giam, không kể đã xử án hay chưa xử án, đều được tha
hết, duy kẻ giết người và kẻ đầu đảng kẻ cướp thì không tha.
4 . Phàm số tiền thuế sai dư của các dân chính hộ, khách hộ, biệt nạp và các sắc
thuộc quân, từ năm Quý Hợi (1803) trở về sau, thì cho giảm 2 phần 10 .
5-6. Các hạng thóc đồn điền, lĩnh láng, lĩnh thâm, dầu rái, than gỗ, sáp ong,
vải trắng, dầu lạc, nhựa tràm, buồm lá và hết thảy các thứ thuế vặt, từ năm Quý
Hợi (1803) trở về sau, đều được giảm 2 phần 10.
Ôi! hiệu lớn ban ra, đã
cùng thiên hạ mà đổi mới; đổi mới mà giữ tín, để giữ cơ đồ khó chuyển lay”.
Từ nay những cáo dụ mệnh
lệnh đều dùng chữ chiếu (Dầu tờ giấc dùng ấn “Thủ tín thiên hạ, văn võ quyền
hành”, trong ngoài dâng chương sớ đều dùng chữ tấu. (Phàm các chương sớ đều phải
tuyên đọc ở trước mặt vua, đợi được chuẩn y mới thi hành).
Sau khi ban chiếu đại xá
thiên hạ và tha thuế cho dân, vua còn ban thưởng cho các tướng sĩ có công:
thưởng chung cho toàn quân 1.000 lạng vàng, 10.000 lạng bạc, 30.000 quan tiền.
Những người có công trạng đặc biệt sẽ được thưởng riêng, tùy theo thứ bậc...Chú
của vua là Tôn Thất Thăng (Nguyễn Phúc Thăng) được ban ấn “Quốc thúc chi ấn”.
Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Nhân, Phạm Văn Nhân được tước quận công. Lê Văn
Duyệt: Khâm sai chưởng Tả quân bình Tây tướng quân; Lê Chất:Khâm sai chưởng Hậu
quân bình Tây tướng quân. Nguyễn Văn Nhân phụ trách đội quân Trấn Võ, Phạm Văn
Nhân phụ trách đội quân Thần Võ. Phạm Ngọc Uẩn coi bộ Binh, Trịnh Hoài Đức, bộ
Hộ, v.v...Phân phối các quan phụ trách từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt
thu dụng nhân tài đã từng phục vụ Tây Sơn về quy thuận như Nguyễn Hữu Thận (lúc
đầu làm Tham tri sau lên đến Thượng Thư bộ Lại). Sắp đặt đâu vào đấy, Gia Long
mới ban hành lệnh hành quân ra Bắc.
Gia Long tiến quân ra
Bắc:
Vua Gia Long đã sắp đặt như
sau: Nguyễn Văn Trương (Trung Quân) chỉ huy thủy binh. Lê
văn Duyệt (Tả quân) và Lê Chất (Hậu quân) dẫn bộ binh đi trước. Nguyễn Đức Xuyên
chỉ huy đoàn voi trận theo đường núi sang sông Gianh. Trần Văn Tín (đô thống chế)
chỉ huy lính Túc trực, theo hầu vua. Tống Phúc Lương (phụ trách quân báo) đi
trước thăm dò tình hình. Nguyễn Hữu Đồng (tham tri bộ Hộ) phụ trách quân lương
nuôi lính. Vua để Tôn Thất Thăng, Nguyễn Văn Khiêm, Nguyễn Đăng Hựu ở lại giữ
kinh đô. Theo kế hoạch đã định: Đặng Trần Thường đem quân đánh úp Hoàng Sơn (đèo
Ngang) để chận đường sau lưng, Lê Văn Duyệt dẫn bộ binh đánh trước mặt, Nguyễn
Văn Trương sử dụng các súng đại bác trên tàu bắn vào giữa lòng địch.
Trước khi lên đường, vua ban hịch cho quân và dân Bắc Hà, trong đó có
những điều quan trọng như sau:
- Người hào mục mà đánh được đồn giặc và đón bắt được giặc thì lượng công
mà thưởng; ai có lòng hướng thuận, đến nơi quân mà ứng nghĩa thì tùy tài mà thu
dụng.
- Người dân mà bắt sống được giặc Nguyễn Quang Toản thì cho quan chức nhất phẩm,
cấp ruộng 100 mẫu, thuộc binh 100 người; bắt được các em Quang Toản thì cho quan
chức nhị phẩm, cấp ruộng 50 mẫu, thuộc binh 50 người; bắt được bọn quận công đầu
sỏ giặc thì cho chức quan tam phẩm, cấp ruộng 30 mẫu, thuộc binh 30 người. Chém
chết được cũng thưởng như thế. Nếu lại dung chứa và dẫn đi, biết được thì sẽ xử
theo quân pháp.
- Đại binh tới đâu, hào mục địa phương biết được tình hình hư thực của giặc mà
đến trình bày thì có khen thưởng. Nếu không nói thực và còn dung ẩn bọn giặc thì
xử theo quân pháp”.
Vua cũng duyệt các quân
thủy bộ và định rõ các điều quân lệnh (đại khái):
-Quan quân mà bắt hay
chém được giặc Nguyễn Quang Toản và những tướng đầu sỏ thì được thưởng như trong
lời hịch trước.
-Các quân đến địa phương nào, không được cướp
bóc của cải, gian dâm phụ nữ, ai phạm thì trị tội nặng.
Vua cho lính ăn Tết Đoan
ngo xong mới ra lệnh xuất phát vào ngày 21 tháng 5 Nhâm Tuất (20-06-1802) cho
đến ngày 21 tháng 6 Nhâm Tuất (20-07-1802), vua vào thành Thăng Long, trong vòng
một tháng, toàn bộ đất Bắc Hà gồm 14 trấn, 47 phủ, 187 huyện, 40 châu đã thuộc
về nhà Nguyễn. Quân của Gia Long đến đâu, quân Tây Sơn đều bỏ chạy hoặc ra đầu
hàng. Những tướng còn chiến đấu, cuối cùng cũng thua trận, ngay cả những danh
tướng như Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đến lúc sa cơ thất thế cũng đành bó tay
chịu trói. Lòng dân Bắc Hà không còn ủng hộ nhà Tây Sơn như thời chống quân xâm
lăng nhà Thanh nữa, nhất là sau khi họ được tin vua Gia Long đã chiếm lại kinh
đô Phú Xuân và đã lên ngôi hoàng đế, thì họ càng trông đợi ngày Gia Long kéo
quân ra Bắc thống nhất đất nước, chấm dứt cảnh nội chiến kéo dài hơn 200 năm.
Trần Quang Diệu và 3000
quân tinh nhuệ, ban đêm rút ra khỏi thành Bình Định, vượt thượng đạo từ Quy Nhơn
ra tới đèo Quy Hợp, mất đến mấy tháng, vừa thiếu lương thực, vừa phải vất vả
ngày đêm, gặp người thiểu số ngăn cản, phải vừa đánh mở đường, vừa chạy cho
nhanh để kịp hội quân ở miền Bắc. Khi gặp quân của Võ Doãn Văn và Lê Đức Thịnh
chận đánh thì bên Tây Sơn đã quá mệt mỏi, không còn sức hơi để chiến đấu được
nữa, nên đành phải đầu hàng. Đoàn quân Tây Sơn đi theo Trần Quang Diệu gồm các
tướng Từ Văn Chiêu, Nguyễn Văn Giáp, Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Mân và 76 voi trận,
một số lính chết dọc đường, một số bỏ trốn, những người còn trung thành đến giây
phút cuối cũng không còn bao nhiêu. Vua Gia Long ra lệnh cho Lê Văn Duyệt giam
giữ họ lại và không được giết, chỉ trừ Từ Văn Chiêu vì đang đau nặng không thể
đi được, nên bị giết. Trường hợp Võ Văn Dũng cũng vậy, ông ta và đoàn tùy tùng
chạy đến làng Ngọ xá (huyện Nông Cống) thì bị dân làng gồm 18 người do anh em
Phạm Ngọc Phác, Phạm Ngọc Thụy chỉ huy, ra đón bắt đem nộp cho vua Gia Long để
lãnh thưởng. Khi quân Nguyễn đến thành Thăng Long, vua Tây Sơn là Nguyễn Quang
Toản cùng các em là Quang Thùy, Quang Duy, Quang Thiệu...cùng Tư mã Nguyễn Văn
Dụng, Nguyễn Văn Tứ, ban đêm bỏ thành trốn chạy. Anh em Nguyễn Quang Toản vào
trốn tại chùa Thọ Xương (Bắc Ninh) thì bị dân làng phát hiện, kéo nhau đến vây
bắt. Nguyễn Quang Thùy thắt cổ, vua Quang Toản và các em đều bị bắt. Các Tư mã
Dụng và Tứ cũng bị bắt. Ngay lúc đó, quân của Lê Văn Duyệt cũng vừa tới, liền
đem tất cả các tù nhân đóng cũi đưa về Thăng Long.
Ngày 21 tháng 6, Nhâm
Tuất (20-07-1802), vua Gia Long vào thành Thăng Long, ngự ở điện Kinh Thiên (do
nhà Lê xây dựng trước đây), các tướng sĩ vào lạy mừng. Vua ban bố lời chiếu dụ
cho nhân dân Bắc Hà như sau:
“ Từ khi giặc Tây Sơn nổi loạn, nhân dân lầm than đã lâu. Trẫm nay vâng
lệnh Trời, trên để trả thù cho tổ tiên đất nước, dưới để cởi bỏ đau khổ cho nhân
dân. Nay đại binh tới đâu, chỉ giết những giặc đầu sỏ, còn người nào bị ép phải
theo thì đều tha, nên cứ ở yên như cũ. Những kẻ có nhận quan chức của giặc ra
thú thì được miễn tội, gần thì hạn 3 ngày, xa thì hạn 5 ngày. Nếu quá hạn mà
không ra thú, bị người ta bắt được thì làm tội. Những tàn quân của giặc mang
theo binh khí trốn về thì lập tức phải đến cửa quân trao nộp, nếu cất giấu thì
xử theo quân pháp”.
Những nơi xa như Lạng Sơn (do Hoàng Văn Kim và Trương Luyện đóng giữ) khi
được tin quân Nguyễn đến đều nộp thành ra hàng. Sau khi thu phục tất cả các địa
phương thuộc Bắc Hà, vua ban một tờ Chiếu, báo cáo cho trong ngoài được biết.
Qua nội dung tờ Chiếu nầy, chúng ta thấy được diễn tiến toàn bộ cuộc hành quân
Bắc Tiến của vua Gia Long năm Nhâm Tuất (1802).
Chiếu rằng:
“Từ khi ta lấy lại được
kinh thành, quân giặc chạy ra miền Bắc. Bờ cõi hai trăm năm núi rừng ngăn cách,
phong tục đổi thay, 13 đạo thừa tuyên như nước ngập sâu, như lửa đốt bỏng. Đánh
kẻ có tội để yên dân, thực không thể để chậm được. Nay cử đại binh, đến đâu cũng
thắng. Ngày 17 tháng 5, đặc mệnh cho Khâm sai chưởng Tả quân bình Tây tướng quân
quận công Lê Văn Duyệt lãnh các đạo bộ binh, Khâm sai chưởng Trung quân bình Tây
đại tướng quân quận công Nguyễn Văn Trương lãnh các đạo thủy binh, định ngày
cùng tiến. Ngày 21, xa giá ra đi. Ngày 27 thủy binh thẳng đến Hoành Sơn, đánh
phá đồn giặc, bọn đô đốc giặc Nguyễn Văn Ngũ đều thua chạy. Ngày 28, tiến lấy
được Hà Trung. Ngày 29, bộ binh tiến lấy được Đại Nại. Ngày mồng 1 tháng 6, thủy
binh tiến lấy được Vĩnh Định (trấn Nghệ An), thiếu phó giặc Đặng Văn Đằng đầu
hàng, bắt được em Nguyễn Quang Toản tên là Thất và đô đốc giặc là Ngũ. Ngày mồng
2, bộ binh tiến lấy được Tiên Lý, đô đốc giặc là Ý đầu hàng. Ngày mồng 5 tiến
lấy được Dương Xá (trấn lỵ Thanh Hoa), bắt được Quang bàn là em Quang Toản và bố
con đổng lý giặc là NGuyễn Văn Thân. Ngày mồng 7, phó đô thống chế Võ Doãn Văn
bắt được bọn tướng giặc Trần Quang Diệu, Từ Văn Chiêu, Nguyễn Văn Giáp, Lê Văn
Hưng và tướng tốt rất nhiều. Dân Thanh Hoa lại bắt được Võ Văn Dũng giải nộp.
Ngày mồng 9, bộ binh tiến đánh đồn Tam Điệp, tư mã giặc là Nguyễn Văn Dụng,
Nguyễn Văn Tứ chạy trốn. Ngày mồng 10, bộ binh tiến đánh Thanh Hoa ngoại (Ninh
Bình), đô đốc giặc là Tài đầu hàng. Ngày 12 tiến lấy được Châu Cầu (trấn lỵ Sơn
Nam thượng). Thủy binh thẳng tới Vị Hoàng (trấn lỵ Sơn Nam hạ), đô đốc giặc là
Thọ đầu hàng. Ngày 17, bộ binh tiến lấy thành Thăng Long. Dân Kinh Bắc bắt được
giặc Nguyễn Quang Toản, và thái tể là Quang Duy, nguyên soái là Quang Thiệu, tư
mã là Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Tứ, giải nộp. Quang Thùy thắt cổ chết. Trước
sau bắt được hơn trăm thớt voi chiến, khí giới, lương thực, thuyền ghe không
xiết kể. Ngày 21, xa giá đến thành Thăng Long. Bọn ngụy quan kéo nhau đến lạy
xin hàng. Giặc cướp đều quét sạch, công lớn đã hoàn thành.