
Một dân tộc
với chiều dài lịch sử gần 5000 năm chắc hẳn có nhiều điều đáng kể. Từ những
gian truân trong việc phá rừng, trị thủy của các bước chân thủa hồng hoang
mở nước đến những chiến công oanh liệt đánh đuổi giặc ngoại xâm hung hãn để
bảo vệ bờ cõi, cũng có lúc đau đớn ngậm ngùi khi bại trận, cũng có khi thi
phú êm ả buổi thanh bình, tất cả đã đi vào lịch sử, khi thì hiển hách, cuồng
nộ, khi thì âm thầm, vô danh, và tất cả như những nốt nhạc khi kết hợp lại
thành một bản đại hùng ca bi tráng tên gọi Việt Nam. Trong hàng hàng lớp lớp
anh hùng dân tộc có một người mà cuộc đời của ông, dù chỉ trong một thời
gian ngắn 3 năm, đã để lại những bài học lớn cho hậu thế: bài học của chí
khí và lòng dũng cảm, của ứng xử tài trí và nhân cách lãnh đạo. Và bài học
nào cũng có cái giá của nó. Máu đã tưới cho hoa tự do dù đại sự không thành.
Phẫn nộ nhưng không hối tiếc, thất bại nhưng không khiếp nhược, vùi dập
nhưng thanh thản, Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí, đa số trong lứa tuổi thanh
niên, đã lên máy chém ngày 17 tháng 6 năm 1930 tại Yên Báy, nhưng những
tiếng hô Việt Nam vạn tuế, khi trầm hùng khi dữ dội, khi đứt quãng vì bị bịt
miệng hay bị lưỡi thép cắt ngang đã vang động trong tâm thức cách mạng Việt
Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Nguyễn Thái Học sinh năm 1902, thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927. Cứ lấy tầm mắt ngày nay mà xét thì mới cảm nhận được tài trí và khả năng của chàng Thanh Niên Nguyễn Thái Học thủa đó. Với tuổi đời 25, Nguyễn Thái Học đã dựng lên một đảng cách mạng có thanh thế, có thực lực làm cho thực dân và tay sai bản xứ kinh hoàng run sợ. Từ việc tổ chức nội bộ, đến các công tác ám sát bí mật, tuyên truyền, kinh tài, liên lạc ngoại giao, thuyết phục những binh lính người Việt, chế tạo vũ khí, lẩn trốn màng lưới tình báo dày đặc của thực dân đều là những chuyện mà không phải người thanh niên 25 tuổi nào cũng có thể làm nổi. Dĩ nhiên đây là công cuộc chung với nhiều người góp tay góp sức, nhưng Nguyễn Thái Học chính là linh hồn của tổ chức, là điểm hội tụ của những người yêu nước, và là niềm tin của quốc dân khiến cho dân khí được bùng lên rạng rỡ một thời.
![]() |
| "Không thành công cũng thành nhân" |
Ngoài nhiệt huyết cách mạng, Nguyễn Thái Học còn có đặc tài thu phục nhân tâm nhờ tư cách, ý chí và khả năng hùng biện. Từ lúc khởi đầu với một chi bộ trên 10 người, 3 năm sau con số đảng viên, đoàn viên riêng ở ngoài Bắc đã lên đến 70 ngàn người. Nếu không có nhân tài về góp sức và được lòng tin nơi quần chúng, việc này chắc chắn khó thể xảy ra. “Có nhiều nơi, suốt một tổng Kha Lâm ở Kiến An các hương chức toàn là người của Việt Nam Quốc Dân Đảng, làng Cổ Am, Võng La họp chi bộ ngay giữa đình làng, phó Lý và trương tuần thì ra ngoài đường cái để canh phòng nhà chức trách, các cụ già, phụ nữ và con trẻ bu quanh dự thính…”, ”Khi các đảng viên bị ruồng bố và lọt vào tay giặc, có đoàn nữ học sinh đã rủ nhau bỏ tiền, may quần áo, sắm quà, bánh rồi nhận chằng là em gái, là vị hôn thê để hàng tuần vào thăm những người bị bắt không có gia đình ở Hà Nội…”. Lịch sử đã viết về khí thế và tình cảm của người dân đối với công cuộc đấu tranh do Nguyễn Thái Học lãnh đạo vào năm 1929 như thế đó.
Khả năng tránh né mạng lưới tình báo thực dân dày đặc của Nguyễn Thái Học là một điều phi thường, gần như huyền thoại. Thực dân truy nã anh gắt gao với hàng vạn tấm hình niêm yết khắp nơi và giải thưởng 5000 đồng thời bấy giờ là một giá không phải nhỏ. Nhưng anh vẫn không ngừng hoạt động, khi xuôi miền Đông, thoắt lên miền Bắc, điều động các ban, phát triển cơ sở trong dân chúng và trong cả các binh lính người Việt làm cho Pháp. Anh phải hóa trang khi thì như một thương gia, lúc khác là một nhà sư, hay một ngư phủ, hành tung ẩn hiện bất thường, lúc ở một tăng phòng trên núi Yên Tử, lúc lại lơ lửng xuôi giòng sông Đà trong một thuyền câu. Chuyện kể có lần mật thám Pháp đang lục soát nhà một đồng chí thì anh, vì bất ngờ không biết trước, lại xách cặp bước vào. Mật thám tưởng là người thư ký trong làng nghe tin tới lập biên bản. Anh ung dung làm việc như một người thư ký bình thường và đã thoát hiểm. Chỉ có sự gan dạ và bình tĩnh phi thường mới có những ứng biến tuyệt diệu như thế.
Một đức tính hiếm thấy nữa nơi con người Nguyễn Thái Học là tinh thần vì trách vụ chứ không câu nệ chức vụ. Anh sáng lập ra Việt Nam Quốc Dân Đảng và được anh em bầu làm chủ tịch Tổng Bộ, cơ quan chỉ huy cao nhất của đảng hai năm liên tiếp, nhưng đến năm thứ 3 người được bầu làm chủ tịch lại là Nguyễn Khắc Nhu và anh xuống làm phó chủ tịch nhưng đối với anh không hề có sự buồn bực hay tỵ hiềm. Dù đây là chuyện nhỏ nhưng lấy chuyện đời nay mà xét, biết bao nhiêu người chạy theo cái danh hão con con, đặt cái tôi của mình lên trên mọi sự, thì phải thấy tấm lòng khiêm tốn và vì đại nghĩa của Nguyễn Thái Học là đáng kể. Ngoài ra, anh lại là một con người rất thủy chung và nghĩa khí. Sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Báy bị thất bại thì Nguyễn Thái Học vẫn thoát được. Anh em khuyên anh nên ra nước ngoài để lánh một thời gian. Ông Đoàn Kiểm Điểm của tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Trung Hoa cũng đã về mời anh sang hai ba lần, nhưng anh đều từ chối vì muốn ở lại để chia xẻ những gian nguy của anh em, chiến hữu trong giai đoạn khốn khó nhất của đảng. Những chính trị gia “khôn ngoan” có thể chê thái độ này của anh nhưng Nguyễn Thái Học vẫn mãi mãi một nhân cách lớn Việt Nam với sự chọn lựa đó.

Người ta thường nói rằng “Cho tôi biết anh giao du với ai, tôi sẽ cho biết anh là hạng người nào”, ngụ ý rằng tác phong và cách đối xử của bạn bè với một cá nhân nào đó sẽ nói lên được phần nào cá tính của người ấy. Và nếu xét trên phương diện đó, người ta có thể khám phá thêm về con người của Nguyễn Thái Học qua các chiến hữu và bạn bè của ông. Sẽ là một thiếu sót lớn nếu chúng ta không nhắc đến một người gần gũi nhất với ông, một chiến hữu, một người yêu và cũng là một nhân vật nữ phi thường của Việt Nam ở thế kỷ 20: anh thư Nguyễn Thị Giang.
Cô Giang sinh năm 1908, là nữ đảng viên đầu tiên vào đảng ở tuổi đời đôi mươi, nhưng trong một thời gian ngắn đã tạo nhiều thành tích quan trọng qua các công tác phát triển đảng và binh vận. Thực dân điên đầu vì tài ba và năng lực làm việc của chị. Trong các tài liệu phổ biến sau này, tay sai và thực dân Pháp còn có lúc lo sợ khả năng tuyên truyền của Cô Giang hơn cả Nguyễn Thái Học. Từ đôi bạn thanh khí, cảm mến tài nhau rồi đến tình yêu chỉ là một tiến trình tự nhiên và nhờ đó lịch sử Việt Nam mới có một mối tình đau đớn mà rực rỡ, bi thương mà hùng tráng, tàn nhẫn mà nên thơ như thế. Sau ngày anh hùng Nguyễn Thái Học bị bắt Cô Giang vẫn còn lẩn trốn được. Dù con tim tan nát và tâm hồn khủng hoảng, chị vẫn lén lút ở Hà Nội đến gián tiếp thăm nuôi người yêu. Khi nghe tin các tử tù bị giải lên Yên Báy, cô đáp xe lửa lên theo, mang trong mình một khẩu súng và một quả bom định xông vào phá pháp trường để giải cứu người yêu. Khi tới nơi, bọn lính canh ngăn không cho mọi người đến gần, nên ý định không thành. Cô Giang bình tĩnh đứng chung với đám người chờ xem những nhà cách mạng Việt Nam bị xử chém. Khi Nguyễn Thái Học bị đưa lên đoạn đầu đài, nhìn xuống đám đông nhốn nháo đằng xa, chợt thấy một bóng dáng thương yêu quen thuộc, chàng đã mỉm một nụ cười và cô Giang đã đáp lại bằng một nụ cười thay lời chào vĩnh biệt. Những anh hùng và những kẻ đốn mạt rồi cũng chết theo thời gian chỉ có nụ cười đó là bất tử.
Chuyện kể rằng sau đó cô Giang đã về nhà trọ, viết hai bức thư tuyệt mạng bằng bút chì xanh, mua mấy vuông vải trắng làm khăn tang, để sáng hôm sau đáp xe sang Vĩnh Yên nơi quê cũ của Nguyễn Thái Học, ghé lại quán nước quen mà hai người đã có lần hò hẹn ở đó. Sau khi để hai lá thư lại một cho bố mẹ của Nguyễn Thái Học và một cho các đồng chí, cô Giang đã dùng súng bắn vào đầu tự sát. Lời thư tuyệt mệnh của cô Giang viết về Nguyễn Thái Học như sau: “Anh đã là người yêu nước. Không làm tròn được nghĩa vụ cứu nước, anh giữ lấy tấm linh hồn cao cả để về mà chiêu binh, rèn lính ở dưới suối vàng! Phải chịu đựng nhục nhã, mới có ngày mong được vẻ vang! Các bạn đồng chí phải sống lại sau Anh, để đánh đổ cường quyền, mà cứu lấy đồng bào đau khổ!…” Có một người hồng nhan tri kỷ như Cô Giang đủ cho chúng ta thấy thấp thoáng tầm vóc vĩ đại của Nguyễn Thái Học.
Ở người lãnh tụ cách mạng thuộc hạng trẻ tuổi nhất của Việt Nam đó có nhiều điều để chúng ta học hỏi, nhưng phong thái của ông trong sự thất bại mới là bài học tuyệt vời. Khi bị giam trong ngục, ông đã viết thư cho Hạ viện Pháp và Toàn Quyền Đông Dương nhận hết mọi tội và xin đem tính mạng của mình và gia đình ra để chịu chết thay cho đồng đội. Trong thư có đoạn như sau: ”…tôi xin chịu trách nhiệm về tất cả mọi việc chính biến phát sinh trong nước tôi và chỉ huy bởi đảng tôi, từ năm 1927 đến giờ! vậy chỉ cần giết một mình tôi là đủ, mà đừng làm tội những người khác hiện nay đương bị giam ở các cửa ngục. Vì chỉ có mình tôi là thủ phạm thôi còn những người khác đều vô tội cả. Họ vô tội, vì trong số đó thì một phần là những đảng viên, nhưng sở dĩ họ vào đảng là vì họ nghe lời tôi khuyến khích cho họ biết: thế nào là nghĩa vụ một người dân đối với Nước; thế nào là nỗi khổ nhục của một tên vong quốc nô…, chỉ cần phải giết một mình tôi hay còn chưa đủ hả thì tru di cả nhà tôi, nhưng xin các ông tha cho những người vô tội như trên đã nói.” Vài giòng thư thống thiết đã biểu lộ tinh thần trách nhiệm và phong cách của một lãnh tụ chân chính.
Dòng lịch sử vẫn lạnh lùng trôi sau ngày Nguyễn Thái Học và 12 anh hùng trở thành những liệt sĩ bỏ mình vì nước. Thực dân và tay sai thở phào vì Nguyễn Thái Học đã chết. Nhưng có thực là Nguyễn Thái Học đã chết? Trong một cách nhìn nào đó, cuộc đời của ông đã bị đứt đoạn lúc 28 tuổi tại pháp trường Yên Báy, nhưng từ các con sông, rặng núi, đến bờ đất, lũy tre của đất nước đâu đâu chẳng phảng phất hào khí Nguyễn Thái Học. Vậy thì có gì làm chắc giữa biên giới tử sinh? Anh hùng Trịnh Văn Cấn và Lương Ngọc Quyến đã chết cho một Nguyễn Thái Học bùng lên rạng rỡ. Và Nguyễn Thái Học đã nằm xuống nhưng lại sống mãnh liệt trong các thế hệ nối tiếp đã và đang ngẩng mặt hiên ngang đi trên con đường đấu tranh vì dân vì nước.
Hôm nay đồng bào Việt Nam vẫn còn sống cực khổ đọa đày dưới ách một tập đoàn bạo trị, mang hình hài Việt mà tâm hồn đã dâng hiến cho một chủ nghĩa phi dân tộc, đánh mất lương tri Việt Nam trong ngập ngụa vật chất và dối trá. Ai là người sẽ chấm dứt cường quyền này? ai sẽ là người xây dựng lại một Việt Nam thái hòa, yêu thương và phát triển để xứng đáng là hậu duệ của một dân tộc anh hùng? Có người đã làm nhưng chưa thành, nhiều người đang vẫn còn miệt mài trên con đường gai góc, ai sẽ nối tiếp dấn thân nhập cuộc? mười bảy tháng sáu năm một chín ba mươi, Nguyễn Thái Học cùng những anh hùng muôn năm trước đã thể nhập vào nước non Đại Việt để trở thành cái mà ta kính cẩn gọi là hồn thiêng sông núi. Những câu hỏi chung đó xin được trả lời rất riêng tư trong tâm mỗi người với hồn thiêng sông núi Việt Nam.
Ngô Minh